Để thông điệp quảng cáo dịp Tết thu hút khách hàng

Các thương hiệu có thông điệp quảng cáo đem đến cảm giác chia sẻ và có thiết kế bao bì cao cấp sẽ thu hút nhiều khách hàng hơn trong dịp Tết Nguyên đán, theo nghiên cứu của Nielsen.pho-hang-ma-ngap-tran-sac-do (1)

Không khí Tết thúc đẩy khách hàng thay đổi hành vi mua sắm và tiêu dùng. Và quà tặng là một “nét tiêu dùng” đặc biệt nhất. Do đó, để đáp ứng nhu cầu đặc biệt này, bao bì cao cấp (premium packaging) đóng một vai trò quan trọng hơn bao giờ hết, theo kết quả nghiên cứu về người tiêu dùng trong giai đoạn Tết 2015 do Nielsen Việt Nam thực hiện.

Tết cũng là thời điểm gia đình và bạn bè quay quần bên nhau. Theo Nielsen, các thương hiệu mang lại cảm giác chia sẻ trong các thông điệp quảng cáo thường sẽ có kết quả kinh doanh khả quan nhiều hơn vì đây chính là thông điệp tiếp cận người tiêu dùng nhanh nhất và hiệu quả nhất trong giai đoạn Tết.

Nguồn: Giá trị doanh số của ngành hàng bánh quy trong dịp Tết 2015 (từ tháng 12/2014 – 1/2015) so với các quý khác, từ kênh bán lẻ truyền thống và hiện đại, ngoại trừ Co.op Mart và Metro – Nielsen Retail Audit tracking 2014

Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.

                                 Unique Advertising – “Take Another Look For Advertising”

Vì sao smartphone lên ngôi nhưng “cục gạch” vẫn không chết?

Không ít người mua điện thoại “cục gạch” đã có sẵn smartphone và hoàn toàn không phải là người thu nhập thấp.barack obama

Vị doanh nhân vừa bước ra từ ôtô Audi cầm trên tay chiếc điện thoại Nokia 8210 đã sờn màu, gần như trái nghịch chiếc với điện thoại thông minh (smartphone) đắt đỏ nhất nhì trên thị trường của người tài xế. Doanh nhân này dường như chỉ quan tâm đến diễn biến giao dịch trên sàn chứng khoán, chứ không hề để ý đến “cục gạch” mình đang dùng. Theo ông Mai Triều Nguyên, Giám đốc hệ thống bán lẻ di động Mai Nguyên, không ít người mua điện thoại “cục gạch” đã có sẵn smartphone và không hẳn là người thu nhập thấp.

Không chỉ ở Việt Nam, thế giới vẫn có nhiều người trung thành với dòng điện thoại cơ bản (feature phone, dumb phone). Cuối năm 2013, hình ảnh tỉ phú đứng thứ 4 trong làng thể thao với khối tài sản 3 tỉ USD, Jerry Jones, sử dụng điện thoại gập bỗng nhiên lan truyền chóng mặt trên mạng xã hội. Sau đó, Jerry giải thích, điện thoại đó đã đáp ứng đủ chức năng cần thiết và ông không đòi hỏi gì thêm. Một số người cho rằng đây chính là bí quyết giúp Jones tiết kiệm thời gian, bởi ông không bị phân tâm vào các chức năng “thư ký ảo” trên smartphone, vốn đã có thư ký của ông thu xếp.

Ngoài Jerry, Tổng thống Mỹ Obama vẫn trung thành với chiếc điện thoại BlackBerry 8830 từ trước khi nhậm chức và Tổng thống Nga Putin hầu như không dùng điện thoại di động. Người phát ngôn của Tổng thống Nga, ông Dmitri Peskov, cho biết: “Putin không đem điện thoại di động theo người. Thông thường, khi cần phải gọi điện mà không có điện thoại cố định, một trong số những người phụ tá bên cạnh sẽ đưa điện thoại của mình cho ông. Putin cũng chẳng bao giờ quan tâm tới độ sang chảnh, hiện đại của chiếc điện thoại, tối quan trọng là loa phải to, rõ”. Hai vị tổng thống trên dường như chỉ có nhu cầu cơ bản đối với điện thoại di động cá nhân. Thêm một thông tin thú vị từ Tạp chí Vice, các trùm ma túy ở Anh ưa chuộng dòng điện thoại Nokia 8210, xuất hiện từ năm 1999, bởi bền và pin lâu.

Bỏ qua những ứng dụng hữu ích trên smartphone, một số người dùng thừa nhận sử dụng điện thoại cơ bản dường như là sở thích cá nhân. Họ chỉ cần một điện thoại thao tác nghe gọi đơn giản, bền và pin lâu. Trung bình điện thoại thông minh có lượng pin đủ hoạt động từ 1-2 ngày, trong khi điện thoại cơ bản kéo dài từ 4 ngày đến cả tháng.

Không GPS, Wi-Fi, bluetooth, điện thoại cơ bản hạn chế tối đa việc bị theo dõi nên cũng bảo mật thông tin hơn. Chuyên gia an ninh mạng của McAfee, hacker nổi tiếng Chris Roberts, tin rằng điện thoại thông minh đã tiếp tay cho các cuộc tấn công hệ thống mạng quy mô lớn. Mã độc có thể được cài đặt dễ dàng vào điện thoại thông minh thông qua các ứng dụng đơn giản. Với hơn 7 tỉ chiếc điện thoại thông minh trên thế giới và vô số ứng dụng được tải xuống hàng ngày, chuyên gia an ninh mạng này nghi ngờ vi-rút đã được cài đặt trên 100 triệu thiết bị di động thông minh.

Vi sao smartphone len ngoi nhung “cuc gach” van khong chet?
Phân loại lỗ hổng bảo mật đã được dùng trong tấn công mạng năm 2015

Tháng 8.2014, Công ty Bảo mật F-Secure (Phần Lan) đã chứng minh việc điện thoại thông minh của Xiaomi bí mật ăn cắp dữ liệu của người dùng, bao gồm số điện thoại, nhà mạng, số IMEI cũng như tin nhắn và các số điện thoại lưu trong danh bạ. Đến tháng 3.2015, Công ty Bluebox (Mỹ) tiếp tục phát hiện một số ứng dụng độc hại trên chiếc Xiaomi Mi 4, gồm phần mềm quảng cáo giả dạng ứng dụng của Google và phần mềm trojan cho phép kẻ xấu kiểm soát điện thoại từ xa… Tệ hại hơn, vào tháng 9.2015, hãng bảo mật G Data công bố gần 30 mẫu điện thoại Android bị cài sẵn chương trình gián điệp, trong đó có hiệu Xiaomi, Huawei, Lenovo.

Sự ra đời liên tục của điện thoại thông minh khiến nhiều người nghĩ đến ngày xóa sổ đối với điện thoại cơ bản. Nhưng trước thực tế còn nhiều người dùng yêu thích sự đơn giản, an toàn, điện thoại cơ bản vẫn tồn tại, không hề bị hất cẳng ra khỏi thị trường như suy đoán. Ví dụ, dù đã ngừng được sản xuất từ rất lâu, không kết nối internet, Wi-Fi, dòng điện thoại màn hình đen trắng Nokia 8210 vẫn đang được săn lùng trên eBay.

Tại thị trường Việt Nam, IDC cho biết, loạt điện thoại thông minh Lumia của Microsoft mang lại 754 triệu USD trong quý III/2015, trong khi mảng kinh doanh điện thoại cơ bản của Nokia đạt doanh số lên đến 765 triệu USD. Gần đây, Microsoft lên tiếng phủ nhận thông tin sẽ khai tử dòng điện thoại Nokia và cho ra đời mẫu Nokia 130, như một động thái khẳng định sự tiếp tục tồn tại của “cục gạch”.

Theo: Nhịp cầu đầu tư


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.

                                 Unique Advertising – “Take Another Look For Advertising”

 

7 xu hướng tiếp thị hàng đầu 2016

Tiếp thị qua thiết bị di động, tiếp thị bằng video và các chiến thuật tiếp thị khác đã phát triển mạnh trong những năm gần đây. Theo John Hall – Tổng giám đốc kiêm nhà sáng lập của Influence & Co. (công ty cung cấp các giải pháp tiếp thị bằng nội dung), những hình thức tiếp thị này sẽ không còn là xu hướng mới trong thời gian tới nữa nhưng điều đó không có nghĩa là chúng không còn quan trọng.

Hall khuyên doanh nghiệp vẫn nên tiếp tục tối ưu hóa tiếp thị qua thiết bị di động, sản xuất những nội dung hình ảnh và video có chất lượng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần phải chuẩn bị để vượt lên trên trong cạnh tranh bằng cách cập nhật và đi theo những xu hướng tiếp thị sau đây trong năm 2016.w620h405f1c1-files-articles-2016-1094582-tiep-thi

1. Kỹ năng viết sẽ đóng vai trò quan trọng

Khi ngành tiếp thị và quảng cáo chuyển từ in ấn sang kỹ thuật số, nhiều sinh viên theo học ngành báo chí đã lo sợ mình sẽ thất nghiệp. Nhưng hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của tiếp thị bằng nội dung, các kỹ năng nghiên cứu, viết và biên tập đang ngày càng trở nên quan trọng, nhất là khi nội dung có chất lượng cao là một trong những yếu tố hàng đầu để nâng cao hiệu quả tiếp thị qua các trang tìm kiếm thông tin (SEO).

Tuy nhiên, trong một báo cáo có tựa đề Tiếp thị nội dung giữa các doanh nghiệp năm 2016 (2016 B2B Content Marketing), Hiệp hội Tiếp thị nội dung (Mỹ) cho biết, chỉ có 19% các nhà làm tiếp thị chú trọng phát triển kỹ năng viết trong thời gian tới.

Vì vậy, Hall khuyên doanh nghiệp nên tuyển dụng nhân viên có kỹ năng viết và biên tập để xây dựng một đội ngũ tiếp thị nội dung vững mạnh trong năm 2016.

2. Tiếp thị bằng nội dung sẽ cần thiết cho mọi lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp

Nhiều doanh nghiệp quan niệm rằng nhiệm vụ chính của phòng tiếp thị là quảng bá hình ảnh, sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đến khách hàng bên ngoài. Tuy nhiên, Hall cho rằng đây chỉ là chức năng chính của tiếp thị chứ không phải là chức năng duy nhất.

Những sản phẩm của nhóm tiếp thị nội dung sẽ dần dần trở thành một tài sản quan trọng cho những phòng ban nội bộ khác ở những doanh nghiệp hiện đại. Chẳng hạn, phòng sản xuất và kinh doanh sẽ sử dụng một nội dung do nhóm tiếp thị xây dựng để định hướng các nỗ lực chế tạo và bán sản phẩm sao cho có thể tạo ra nhiều giá trị nhất cho khách hàng, phòng nhân sự sẽ dùng nội dung ấy để huấn luyện các nhân viên mới về các quy trình làm việc…

3. Tính cá nhân sẽ là tiêu chí hàng đầu trong tiếp thị

Các chuyên gia cho rằng, doanh nghiệp sẽ ngày càng phải chú trọng hơn đến yếu tố này và khắc phục những hạn chế của thương mại điện tử, làm cho mỗi khách hàng được đối xử như những “VIP” (nhân vật quan trọng).

Hall đưa ra dẫn chứng trường hợp của MagicBand – các nhóm trình diễn trong các công viên chủ đề của Disney. Khách hàng sẽ được từng nhóm MagicBand khác nhau phục vụ tùy theo đặc thù của mục đích nghỉ ngơi, vui chơi của mình. Nhiều khách hàng “nhí” đã cảm thấy rất quyến luyến khi phải rời những nhóm MagicBand sau khi đến Disney vì đã được đối xử rất ưu ái.

Hall khuyên các doanh nghiệp thương mại điện tử cũng nên học hỏi tinh thần này và tìm ra nhiều cách làm, từ việc gửi những bức thư điện tử hay phiếu quà tặng mang tính cá nhân cho từng khách hàng đến những sự chăm sóc hay tư vấn tận tình và phù hợp, khiến họ cảm thấy mình như những người quan trọng và đặc biệt.

4. Xây dựng uy tín trong ngành

Theo Hall, nếu không có những nhà lãnh đạo là các chuyên gia đầu ngành thường xuyên có những ý kiến đóng góp, tham gia vào các diễn đàn thì doanh nghiệp sẽ khó có thể tạo ra một hình ảnh đáng tin cậy và thuyết phục với khách hàng hơn. Khách hàng muốn có một sự kết nối với nhãn hiệu và họ sẽ cảm thấy tin tưởng hơn nếu được tương tác với các nhà lãnh đạo của doanh nghiệp.

Cách tốt nhất để hình thành sự kết nối ấy với khách hàng là tạo ra những nội dung khẳng định uy tín, đẳng cấp của doanh nghiệp với sự chia sẻ, đóng góp của chính các nhà lãnh đạo cấp cao.

5. Tạo thêm giá trị cho khách hàng và ngưng “bán hàng” cho họ

Hall khuyên các doanh nghiệp nên từ bỏ việc chỉ chăm chăm vào mục đích bán được hàng, thay vào đó cần chú trọng vào việc đem đến cho khách hàng hiện tại và tiềm năng – những người có tương tác với các nhãn hiệu – những giá trị thật sự, thông qua việc cung cấp cho họ những nội dung có chất lượng hay tạo ra cho họ những trải nghiệm tích cực.

6. Nội dung có chất lượng là yếu tố hàng đầu để làm tiếp thị SEO

Trước đây, SEO sử dụng hình thức xây dựng các đường dẫn đến các trang web (links) và tối ưu hóa các từ khóa (keyword) để đưa ra các kết quả tìm kiếm. Xếp hạng của doanh nghiệp trong các kết quả tìm kiếm từ những trang web như Google sẽ phụ thuộc vào các yếu tố này.

Sau khi cập nhật liên tục các thuật toán, cơ sở cho việc đưa ra các kết quả tìm kiếm, hiện nay Google bắt đầu xếp hạng các kết quả tìm kiếm dựa trên việc đánh giá chất lượng nội dung.

7. Những công ty đa năng sẽ mất dần

Hall cho rằng, cách dễ nhất để khiến cho khách hàng cảm thấy nghi ngờ về uy tín của doanh nghiệp là nói với họ rằng “Công ty của tôi có thể đáp ứng mọi yêu cầu của quý vị”.

Với xu hướng các ngành nghề ngày càng mang tính chuyên môn hóa cao, các công ty cung cấp dịch vụ toàn diện (full-service) sẽ ngày càng ít dần.

Hall khuyên, đi theo xu hướng ấy, doanh nghiệp cũng chỉ nên tập trung vào những việc mà mình có thể làm tốt nhất, đáp ứng cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi nhất từ doanh nghiệp. Chỉ khi tập trung nỗ lực vào những việc giúp cho mình khác biệt với các đối thủ cạnh tranh, thì doanh nghiệp mới có thể phục vụ khách hàng một cách tốt nhất.

Theo NHẤT NGUYÊN/DNSGCT


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.

                                 Unique Advertising – “Take Another Look For Advertising”

Tại Sao quảng cáo TV đỡ “dở hơi” hơn quảng cáo Digital?

Duncan Southgate, Giám đốc Thương hiệu toàn cầu phụ trách mảng Digital tại Millward Brown, cho rằng tôi đã tiêu tốn quá nhiều thời gian “phê phán” quảng cáo digital.

Trong những email gần đây gửi cho tôi, ông ấy đã viết: “Tôi không thấy chúng ta có bài nào nói về việc quảng cáo TV dở như thế nào”. Được thôi, Duncan, hãy xem thử nhận xét này của ông có đúng không nhé.

Hãy đồng ý với một nguyên tắc cơ bản: Không một người bình thường nào hứng thú với những quảng cáo trong cuộc sống của họ trừ khi chúng mang đến thứ gì đó có giá trị. Lí do mà tôi phê phán quảng cáo digital nhiều hơn quảng cáo TV là vì quảng cáo digital thường vi phạm nguyên tắc trên nhiều hơn. Mọi người thường cho rằng đặt nhiều quảng cáo vào nội dung là điều cần thiết để nuôi những trang tin miễn phí, nhưng cái cách mà TV truyền thống chen quảng cáo vào giữa nội dung lại được xem là chỉnh chu và dễ chịu hơn là các kênh digital.

Xét chung về mặt nội dung thì cũng có khá nhiều quảng cáo TV dở tệ. Điều này cũng đúng với quảng cáo digital. Có rất ít bằng chứng nói lên rằng quảng cáo digital thì ít hấp dẫn hơn là quảng cáo TV. Nhưng theo những gì tôi thấy được từ dữ liệu, sự khác biệt cơ bản giữa TV và digital mà làm cho quảng cáo TV đỡ “dở hơi” hơn digital là bởi vì nội dung của TV được kiểm soát cẩn thận hơn (thậm chí còn bị kiểm soát khắt khe bởi nhà nước). Chỉ có một vài quảng cáo TV được phát trong giờ nghỉ và được kiểm duyệt phần nào để phù hợp với nội dung của show đó. Người xem vì vậy cũng dễ tiếp nhận hơn do họ có mong muốn quay lại xem nội dung show, và quảng cáo giữa giờ nghỉ có khuynh hướng tạo ra sự tiếp nhận dễ chịu hơn là khó chịu (như digital).

Bây giờ, hãy cùng thảo luận đến hình thức chèn các digital video vào nội dung, mà trong phần lớn trường hợp đối với digital, quảng cáo sẽ được chèn những đoạn nội dung khác nhau và thường xuất hiện một cách bất ngờ ngoài mong muốn. Một ví dụ tồi tệ nhất tôi đã tình cờ gặp phải đó là trên đài PBS, nơi quảng cáo được chèn vào nội dung mà không có sự lựa chọn nào để tiếp tục nội dung. Sự chuyển đổi giữa nội dung và quảng cáo gần như tức thời. Một phút bạn đang xem show Endgame, và chỉ 1 giây tiếp theo, bạn bị gián đoạn. Đó lại là một loại quảng cáo về du lịch biển ở Châu Âu – không biết bao nhiêu lần tôi phải xem đi xem lại những hình ảnh được chụp từ trên không của thủ đô Budapest và sông Danube đến phát ngán? Khi đang viết ra bài này, cuối cùng cũng khiến tôi nhớ đến đoạn quảng cáo nói trên là về thương hiệu du thuyền Viking River Cruise. Ngay cả khi tôi có ý muốn thử một chuyến du thuyền, tôi cũng sẽ hiếm khi chọn công ty này bởi vì họ đã mang đến cho tôi quá nhiều cảm xúc tiêu cực trước đó.

                                                                             Ảnh: Michael Goldberg

Và thêm một loại quảng cáo nữa đó là video có tính năng autoplay. Đã là quá đủ khi quảng cáo được chạy tự động với âm thanh được tắt đi, nhưng một vài trang web dường như nghĩ rằng có thể chấp nhận được khi chạy quảng cáo với âm thanh được bật. Bây giờ, hầu hết mọi người đều biết rằng có thể bỏ qua và nó sẽ biết mất sau đó. Nhưng những quảng cáo này vẫn còn mang lại sự gián đoạn cũng giống như những loại quảng cáo pop-up phiền toái trước đây.

Trong email gửi đến tôi, Duncan đã chỉ ra rằng việc những quảng cáo pre-rolls (có thể bỏ qua được) đang dần phổ biến hơn quảng cáo TV, và ngụ ý rằng nếu tất cả những quảng cáo digital có thể dễ dàng bỏ qua được thì nó sẽ được đón nhận tốt hơn là quảng cáo TV. Điều này có lẽ đúng, nhưng tôi vẫn ngờ rằng người ta dễ chấp nhập quảng cáo digital là bởi họ không phải tốn thêm thời gian để xem chúng. Nếu tất cả những quảng cáo đều có thể dễ dàng bỏ qua được, thì các thương hiệu sẽ phải tốn thêm nhiều thời gian và công sức vào việc đảm bảm rằng những giây phát đầu tiên sẽ thu hút người xem và họ không bỏ qua nó ngay lập tức.

Bất kì điều gì làm gián đoạn việc bạn đang làm thật sự gây khó chịu, và có một số thứ khó chịu hơn những thứ khác. Và tôi cho rằng quảng cáo digital tạo ra phiền toái hơn là quảng cáo TV. Suy nghĩ của bạn là gì? Hãy chia sẻ nhé.

Nguồn: Millward Brown


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.

                                 Unique Advertising – “Take Another Look For Advertising”

“CÁI CHẾT” CỦA NGÀNH TAXI TRUYỀN THỐNG

Rene Freidman – ông chủ taxi tại thành phố New York (Mỹ) – đã mô tả thương hiệu Uber như một “kẻ tàn ác nhất, công ty vô đạo đức nhất từ trước đến nay” trong nỗi đau từ sự tuyệt vọng của ngành taxi truyền thống.

taxi

Đầu tháng 9, báo chí rộ lên thông tin các hãng taxi truyền thống ở Việt Nam phải đầu tư lớn cho những ứng dụng công nghệ số gọi taxi. Tức là cách vận hành taxi tương tự như các mô hình vận tải kiểu mới, đi đầu là Uber và Grab Taxi. Nó cho thấy một xu hướng không thể chối cãi rằng, dịch vụ taxi mới đã và đang chiếm lĩnh thị trường với nhiều cải tiến.

Thế nhưng, trước khi những hãng xe Việt Nam làm điều này, ở Mỹ đã xảy ra những cuộc “lật đổ” trong ngành taxi. Uber – mô hình kinh doanh tiết kiệm – đã biến thành kẻ “thủ ác” số 1…

taxi

Ứng dụng điện thoại này đang báo hiệu “cái chết” của taxi truyền thống?

Huyền thoại về “Vua Taxi”

Rene Freidman, 44 tuổi, được mệnh danh là “Vua Taxi” tại thành phố New York, xứng đáng là nhân vật điển hình cho thất bại cay đắng của những chiếc taxi truyền thống trước Uber.

Vào năm 1996, Rene tiếp quản đội taxi hơn 50 chiếc của cha mình – ông Naum Freidman – và nhanh chóng phát triển, trở thành “nhân vật đình đám nhất” trong lĩnh vực taxi tại New York.

Hiện tại, số lượng taxi do ông kiểm soát vẫn còn đến 860 chiếc trên khắp New York (theo lời Freidman, thực tế ông đang có hơn 1.100 chiếc), chưa kể hàng trăm chiếc ở Chicago, New Orleans và Philadelphia.

taxi

Ông Freidman kiếm soát xấp xỉ 1.000 chiếc taxi ở New York và được xem là người có tầm ảnh hưởng lớn nhất ở lĩnh vực này tại Mỹ

Freidman làm ra tiền bằng việc cho người hành nghề taxi tự do thuê taxi. Lý do khiến Freidman sở hữu khoản tài sản kếch sù nằm ở chỗ người Mỹ không thể tự đăng ký nghề taxi mà phải có một tấm huy hiệu do Ủy ban Taxi và Limousine (TLC) cấp. Mỗi người muốn sở hữu một chiếc taxi đều phải chi tiền mua tấm huy hiệu này. Vào năm 1947, nó có giá 2.500 USD và đến năm 2013, đỉnh điểm một tấm huy hiệu có giá tới 1,32 triệu USD.

Trên hành trình trở thành “ông trùm” taxi của nước Mỹ (theo đánh giá của Bloomberg), Freidman đã thâu tóm những tấm huy hiệu ấy và góp phần không nhỏ khiến giá huy hiệu đội lên ngất ngưởng.

Sự trỗi dậy của Uber

Uber là thương hiệu kinh doanh vận tải dựa trên nền tảng ứng dụng điện thoại kết nối hành khách và tài xế. Mô hình Uber hiện nay đang được đánh giá là thương hiệu khởi nghiệp hàng đầu thế giới với giá trị niêm yết lên tới 50 tỷ USD.

Trong quá trình phát triển, thương hiệu Uber đã “tấn công” thị trường taxi tại New York vào năm 2011. Chỉ vài năm sau, công ty này đã mở rộng tầm ảnh hưởng theo cách “không thể tin nổi”.

Trong một bài viết ngày 23/7 vừa qua, Bloomberg cho biết hiện ở New York có 13.637 chiếc taxi (tức có huy hiệu chứng nhận). Trong khi đó Uber không thuộc loại hình này, dù cũng phải đăng ký giấy phép với TLC, có tới 19.000 chiếc. Với riêng lĩnh vực đăng ký qua ứng dụng điện thoại, Uber chiếm lĩnh tới 90% thị trường taxi New York.

Thông điệp nguy hiểm cho “ông trùm” taxi

Khi một thế lực nổi lên mạnh mẽ, đồng nghĩa những thế lực cũ phải đối diện nguy cơ mất phần, mất quyền lực và tất nhiên, mất tiền.

Thị phần người sử dụng taxi của Freidman đã giảm cùng với sự gia tăng của Uber. Từ tháng 6/2013 đến tháng 6/2015, số lượng khách đi Uber hằng tháng tăng 3,5 triệu lượt. Trong khi đó, các hãng taxi truyền thống giảm cùng thời gian ấy từ 14 triệu lượt xuống còn 12 triệu, theo Bloomberg. Quan trọng hơn, một số lượng lớn người thuê xe taxi của Freidman đã chuyển sang… lái cho Uber.

Freidman đã đầu tư hệ thống đồng hồ, thiết bị mới, nhưng vẫn không cản được sự lớn mạnh của các đối thủ
Bloomberg cho biết, số người này đã rao bán huy hiệu chứng nhận của họ chỉ với giá 650.000 USD để tham gia Uber và lái với mức giá rẻ hơn. Kể từ mốc 1,32 triệu USD năm 2013, hiện nay TLC cho biết giá thị trường của những tấm huy hiệu ấy chỉ còn khoảng 750.000 USD.

Mức giá trung bình của những chiếc huy hiệu chứng nhận trước, trong và sau khi Uber xuất hiện ở New York (vạch màu vàng là thời điểm Uber xuất hiện)

Việc mất thị phần đã khiến 22 công ty do Freidman sở hữu nộp đơn xin phá sản. Thêm vào đó, khi lượng huy hiệu đăng ký xuống giá, nó đã khiến tài sản của ông trùm taxi này bị giảm giá trị ròng.

Hồi tháng 3 năm nay, Freidman đã phải chấp nhận thanh toán 90 huy hiệu chứng nhận cho Citibank với giá chỉ 31,5 triệu USD.

taxi

Những chiếc contermet hư của Freidman – một biểu tượng của sự thất bại

Trong bài phỏng vấn đăng ngày 27/8, ông Freidman đã xuất hiện với hình ảnh đơn giản hơn chính ông trước đây rất nhiều. Những buổi ăn sáng an lành, một cuộc sống tại Park Avenue và những chiếc Ferrari vẫn là những thứ Freidman còn lưu giữ.Tuy nhiên, một dấu hiệu không nhỏ của thất bại đang đợi chờ ông cũng như các doanh nghiệp taxi truyền thống nói chung, xuất phát từ một ứng dụng trên smartphone!

Nguồn: doanhnhansaigon


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.

                          Unique Advertising – “Take Another Look For Advertising”

5 CHIẾN LƯỢC KHUYẾN MẠI KÉO KHÁCH HÀNG VỀ VỚI BẠN

Ngoài cạnh tranh về thương hiệu và cạnh tranh về dịch vụ thì cạnh tranh về chính sách khuyến mại cũng đang dần chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược kinh doanh.
Có những nhà bán lẻ chỉ cần thông qua một hoạt động khuyến mại là có thể đánh bại được đối thủ và thiết lập vị trí bá chủ của mình trên thị trường; cũng có những nhà bán lẻ sau khi khuyến mại chỉ đạt được hiệu quả trung bình, việc tiêu thụ không có khởi sắc gì thêm, thậm chí càng lỗ vốn và phải đối mặt với tình trạng khó khăn hơn.

khuyenmai

1. Thực hiện chương trình quay số/ bốc thăm trúng thường

Các chương trình bốc thăm trúng thưởng bao giờ cũng tạo sự kích thích cho khách hàng, tâm lý chung của khách hàng là mong muốn được sở hữu một sản phẩm tốt mà không phải bỏ nhiều chi phí cho nó, như thế sẽ dễ dàng có được những thông tin cá nhân của khách hàng phục vụ cho các chương trình Marketing sau này.
Marketing đúng thời điểm sẽ giúp các cửa hàng thu hút đối tượng khách hàng tiền năng, giải phóng hàng tồn. Hơn nữa, khi các chương trình trúng thưởng được tổ chức rầm rộ thì sẽ gây được sự chú ý của rất nhiều người, qua đó ấn tượng về cửa hàng của bạn sẽ được in đậm hơn trong đầu của khách hàng, khi đó, mỗi khi có nhu cầu, khách hàng sẽ nghĩ đến bạn đầu tiên chứ không phải một cửa hàng nào khác.

2. Quà tặng vào dịp đặc biệt

Trong ngày sinh nhật của khách hàng, hãy dành cho họ một ưu đãi đặc biệt để khách hàng cảm thấy họ được quan tâm. Thông qua email hoặc SMS, hãy gửi đến họ một coupon giảm giá vào đúng ngày sinh nhật hoặc tặng họ một món quà nhỏ – điều này giúp gây được ấn tượng mạnh với khách hàng, theo đó khách hàng sẽ thêm tin tưởng, sử dụng dịch vụ của bạn.

3. Thực hiện các chương trình giảm giá

Tâm lý của người mua hàng thường thích được sở hữu những sản phẩm tốt giá rẻ, nên các chương trình giảm giá thường thu hút được sự quan tâm rất lớn của khách hàng. Giảm giá là một trong những hoạt động kích thích hành vi mua hàng của khách hàng, đôi khi giảm giá chính là chiến dịch giải phóng hàng tồn của cửa hàng. Giảm giá thường mang lại kết quả nhất định đối với những mục đích nhất định, tuy nhiên không nên lạm dụng các chương trình giảm giá vì có thể mang lại hệ quả không tốt cho tình hình kinh doanh của cửa hàng bạn.

4. Phát hành coupon, voucher

Việc phát hành coupon, voucher là một cách kích thích khách hàng sử dụng dịch vụ của bạn vào lần tiếp theo. Tuy nhiên, không nên phát hành coupon, voucher một cách tràn lan sẽ khiến khách hàng thiếu tin tưởng và không nhận thấy được mức độ quan trọng, ưu tiên hành cho mình. Hãy thực hiện trên một nhóm khách hàng cụ thể như nhóm khách hàng thân thiết, nhóm khách hàng có sinh nhật trong tháng, khách hàng nữ (dịp 20/10 hoặc 8/3),… để có được kết quả tốt.

5. Marketing truyền miệng – “Chi phí ít, hiệu quả cao”

Marketing truyền miệng là hình thức sơ khai nhất của quảng cáo là thông qua hình thức truyền miệng của người thân, bạn bè. Sau này, cùng với sự phát triển của truyền thông, hình thức này cũng có một số thay đổi nhưng vẫn duy trì tính “Chi phí ít, hiệu quả cao”. Nội dung của quảng cáo truyền miệng phải được thiết kế, dàn dựng sao cho khoa học và hấp dẫn nhằm thu hút sự quan tâm của “đối tượng truyền miệng”.

Muốn thực hiện Marketing truyền miệng, các doanh nghiệp bán lẻ nên chú trọng những điểm như: lợi ích cá nhân của đối tượng truyền miệng, ví dụ như: tặng 1 voucher giảm giá cho người giới thiệu bạn bè, người thân đến sử dụng dịch vụ của cửa hàng; sự hiếu kỳ của khách hàng; mới mẻ, hấp dẫn,… Tuy nhiên, muốn thực hiện Markting truyền miệng hiệu quả, phải đảm bảo chất lượng và giá thành của dịch vụ, sản phẩm, làm cho khách hàng cảm thấy hài lòng và tin tưởng ở bạn.

Theo blog.sapo.vn


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.

                                 Unique Advertising – “Take Another Look For Advertising”

Khai thác lợi thế internet: Phải hiểu về an ninh mạng

Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển internet nhanh nhất khu vực nhưng nhận thức về an ninh mạng lại kém nhất.

Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng internet cao nhất trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Hiện Việt Nam đã có khoảng 41 triệu người dùng internet, chiếm khoảng 41% dân số. Số lượng người dùng mạng xã hội cũng thuộc vào hàng cao nhất trong khu vực. Theo số liệu do Facebook ước tính, hiện đã có 36% dân số Việt Nam sử dụng mạng xã hội này.

Bình quân, mỗi người Việt Nam dành đến 2 tiếng 30 phút mỗi ngày để truy cập vào Facebook, cao hơn đến 13% so với mức trung bình của người dùng mạng xã hội trên toàn cầu. Internet đã trở thành phương tiện không thể thiếu đối với nhiều người và đã được mở rộng tới mọi đối tượng người dân, đặc biệt ở vùng núi, nông thôn, biên giới, hải đảo.

Vì sao internet lại được sử dụng rộng rãi như thế? Theo khảo sát của Công ty Tư vấn quản lý McKinsey tại 13 quốc gia về sự đóng góp của internet cho nền kinh tế, giá trị mang lại từ internet chiếm đến 3,4% tổng GDP các nước này. Giá trị này tương đương với GDP của Canada, Tây Ban Nha và cao hơn của Brazil.

Nếu như trước đây, nhiều dự án khởi nghiệp thường gặp khó khăn trong việc tìm và gặp gỡ các nhà đầu tư, thì nay internet đã giúp các công ty hiện thực hóa nhiều dự án tiềm năng.

Dù là quốc gia có tốc độ phát triển internet cao nhất trong khu vực nhưng kiến thức về an ninh mạng và những hiểm họa từ internet mang lại của người dân Việt Nam lại thuộc hàng kém nhất.

Báo cáo mới công bố của ESET về “Nhận thức an ninh mạng tại Việt Nam năm 2015” cho thấy, người dùng internet tại Việt Nam có nhận thức kém về an ninh mạng và chưa có các biện pháp phòng ngừa thích hợp, khiến họ dễ bị các mối nguy cơ trực tuyến đe dọa.

Cụ thể, đa số những người sử dụng internet ở Việt Nam có quan niệm sai lầm về những vấn đề an ninh mạng. Nhiều người không thể trả lời đúng những câu hỏi như sự nguy hiểm của việc sử dụng Wi-Fi công cộng miễn phí (59% cho rằng việc này an toàn) cũng như của việc tạo mã bảo mật với các thông tin cá nhân (70% nghĩ rằng việc này an toàn). 62% người dùng cũng tin rằng máy tính để bàn dễ bị tin tặc xâm nhập hơn các thiết bị di động.

Không chỉ vậy, người dùng tại Việt Nam có những sai lầm cơ bản như kết nối Wi-Fi công cộng không đảm bảo (71%), tạo mật mã dễ nhớ (70%), không thay đổi mật mã trong thời gian dài (66%), cài đặt đăng nhập tài khoản tự động (59%), và tải các tập tin từ các nguồn không chính thức (49%).

Theo thống kê của Công ty An ninh mạng Bkav, chỉ trong vòng 6 tháng (từ tháng 1 – 6/2015) đã có 2.460 website của các cơ quan, DN bị xâm nhập.

Ông Parvinder Wali – Giám đốc bán hàng và marketing của Tập đoàn ESET khu vực châu Á – Thái Bình Dương cho rằng, do sự bùng nổ mạnh mẽ của internet, Việt Nam đang ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào dữ liệu, giao tiếp điện tử và công nghệ thông tin để cải tiến và nâng cao hiệu suất. Hậu quả là các nguy cơ về an ninh mạng ngày một gia tăng.

“Mặc dù người dùng internet tại Việt Nam biết một số hành động nào đó có thể khiến họ gặp rủi ro hoặc dễ bị tấn công khi kết nối internet, nhưng họ vẫn không ngừng mắc sai lầm. Khe hở giữa nhận thức và hành động này là xu hướng đáng lo ngại vì tin tặc thường tấn công những chỗ ít đề phòng nhất. Nếu người dùng không có đủ các biện pháp phòng ngừa thích hợp, họ có thể vô tình trở thành nạn nhân của một cuộc tấn công mạng”, ông Parvinder Wali nói.


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.

                                 Unique Advertising – “Take Another Look For Advertising”

“Cân đo” với Facebook marketing

Với gần 1,5 tỷ người dùng trên toàn thế giới, Facebook mang lại hiệu quả quảng cáo rõ rệt cho doanh nghiệp (DN). Vậy nhưng gần đây, tác động từ việc quảng cáo qua mạng xã hội này đang có xu hướng giảm.

Giảm sút hiệu quả

Theo số liệu Facebook công bố hồi giữa tháng 8/2015, Việt Nam có hơn 30 triệu người dùng Facebook, trong đó có 27 triệu người dùng thông qua điện thoại di động, 20 triệu người sử dụng hằng ngày. Facebook cũng là mạng xã hội được sử dụng nhiều nhất tại Việt Nam khi người dùng dành đến 2 tiếng rưỡi mỗi ngày để lướt Facebook. Có 2 trong 5 người tìm hiểu các thương hiệu liên quan đến thời trang, làm đẹp, ăn uống, đi lại thông qua MXH này.

Trong tháng 6/2015, Facebook cũng đã công bố, có đến gần 1,5 tỷ người sử dụng Facebook ít nhất 1 lần mỗi tháng. Trong đó có đến 968 triệu người kiểm tra tài khoản Facebook hằng ngày.

Với lượng người dùng khổng lồ, Facebook đã phát triển nhiều tính năng mới, trong đó chủ yếu là kinh doanh quảng cáo dành cho từng đối tượng người dùng phù hợp. Theo tờ New York Times, trong quý II/2015, doanh thu từ quảng cáo của mạng xã hội này đạt 3,8 tỷ USD, tăng 43% so với cùng kỳ năm trước. Quảng cáo của Facebook trên điện thoại di động còn thành công hơn khi đạt đến 2,9 tỷ USD, tăng 62% so với năm 2014.

Tại Việt Nam, số DN khai thác kinh doanh từ mạng xã hội này cũng khá lớn. Theo Bizweb – đơn vị chuyên thiết kế website bán hàng cho các chủ cửa hàng, có tới 97% các website tích hợp bán hàng trên Facebook, 67% sử dụng quảng cáo trên mạng xã hội này.

Số DN sử dụng Facebook để quảng bá sản phẩm tại Việt Nam rất cao nhưng trên thực tế, hiệu quả của mạng xã hội này đang bị giảm sút. Theo khảo sát mới công bố của Social Media Examiner, có đến 92% chủ DN đánh giá Facebook là kênh marketing trực tuyến quan trọng, nhưng cũng có đến 55% cảm thấy nỗ lực của họ không thực sự mang lại hiệu quả. Với các DN nhỏ và vừa, hiệu quả mang lại từ Facebook là rất lớn, nhưng so với những năm trước đây, tác động từ việc quảng cáo qua mạng xã hội này có xu hướng giảm.

Một trong những nguyên nhân khiến Facebook giảm hiệu quả quảng cáo là do sự thay đổi cách hiển thị. Cụ thể, trong tháng 4 và tháng 5/2015, Facebook đã thay đổi cách hiển thị khiến các fanpage hiển thị ít hơn trên trang chủ của người dùng. Điều này làm cho các đơn vị kinh doanh trực tuyến gặp trở ngại khi tỷ lệ tiếp cận (reach) trên các fanpage bán hàng sụt giảm mạnh.

Để khắc phục tình trạng này, DN buộc phải chi tiền nhiều hơn để quảng cáo hoặc thuê nhân vật nổi tiếng quảng bá nhằm tăng lượt xem, chia sẻ, giữ ổn định tương tác. Nhưng không phải DN nào cũng đủ tiềm lực để tăng cường quảng bá. Đây là một trong những lý do khiến “niềm tin kinh doanh thành công từ Facebook” giảm sút.

Khai thác kênh tiềm năng

Theo đại diện của Vinalink – đơn vị chuyên về dịch vụ khảo sát, marketing trực tuyến – nếu biết sử dụng đúng cách mạng xã hội, hiệu quả kinh doanh sẽ rất lớn. Thông qua Facebook, DN sẽ dễ dàng truyền tải thông tin sản phẩm, dịch vụ đến khách hàng mục tiêu (vì mạng xã hội này phân khách hàng theo độ tuổi, giới tính, trình độ…). Hơn nữa, chi phí cho công tác truyền thông cho Facebook cũng rất thấp nhưng nhanh chóng thu thập các thông tin phản hồi, dễ dàng tạo nhóm khách hàng trung thành.

Đồng quan điểm, ông Trần Trọng Tuyến – Giám đốc Công ty CP Công nghệ DKT (đơn vị quản lý Bizweb), cho rằng, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, môi trường Việt Nam đã sẵn sàng để đón nhận sự thành công đến từ kinh doanh trực tuyến. Thế nhưng, công cụ này không phải là “đũa thần”, cứ làm là thành công, mà cần đầu tư và có chiến lược rõ ràng.

Quảng cáo trên Facebook đang là lựa chọn của số đông DN, nhưng nếu chỉ áp dụng kênh bán hàng này sẽ khó có thể khai thác hết tiềm năng thị trường. Nếu lạm dụng quảng cáo trên mạng xã hội này sẽ làm khách hàng bị nhiễu thông tin và có xu hướng nghi ngờ thương hiệu. Bởi, đầu tư nhiều hơn vào Facebook và tăng cường các hoạt động trên mạng xã hội này là hai việc khác nhau.

Hơn nữa, việc có nhiều người bán hàng và nhà quảng cáo gia tăng các hoạt động quảng bá trên Facebook cũng dẫn đến việc cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn. Một trở ngại khác là trong suy nghĩ của nhiều người, đặc biệt là những người lớn tuổi, thông tin trên mạng không mang tính chính thống, thiếu sự tin cậy so với các phương tiện truyền thông khác như tivi, báo, đài.

Với những trở ngại trên, muốn khai thác tốt Facebook, DN cần có chiến lược quảng cáo và truyền thông tốt hơn, am hiểu kỹ thuật quảng cáo và tính ứng dụng cũng như tạo sự khác biệt, nắm bắt xu hướng, hành vi tiêu dùng của khách hàng tốt hơn. Mỗi loại sản phẩm, dịch vụ sẽ có một đối tượng khách hàng tiềm năng khác nhau. Do vậy, việc quan trọng là phải xác định và thấu hiểu đối tượng khách hàng của DN, từ đó đưa ra chiến lược kinh doanh và tiếp thị phù hợp.

Theo DNSG


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.

                                 Unique Advertising – “Take Another Look For Advertising”

 

R&D – yếu tố sống còn của doanh nghiệp

Có nhiều cách định nghĩa về tiếp thị, nhưng chắc chắn tiếp thị không phải là quảng cáo, đúng hơn quảng cáo chỉ là một trong những công cụ của tiếp thị. Tiếp thị thậm chí được thực hiện trước khi doanh nghiệp (DN) được thành lập, sản phẩm được ra đời…

Quảng cáo là giải pháp

Chưa thấy iPhone, iPad của Apple trên truyền hình, báo chí. Vậy điều gì khiến thương hiệu này có độ nhận biết cao như vậy? Câu trả lời đơn giản là tiếp thị. Apple đã khai thác tốt vai trò và sứ mệnh của tiếp thị, đó là “quá trình kiến tạo những điều kiện hấp dẫn khiến người mua tự thuyết phục chính mình”.

Tại Việt Nam và trên thế giới, một bộ phận lớn người tiêu dùng (NTD) đã “tự thuyết phục” chính mình về giá trị và lợi ích sử dụng mà thương hiệu Apple mang lại.

Do vậy, NTD có nhu cầu tìm kiếm thông tin về sản phẩm trước khi chúng được chào bán chính thức. Báo chí, truyền thông cũng vào cuộc để cập nhật thông tin về những xu hướng tiêu dùng mới nhất, đáp ứng nhu cầu thông tin thị trường và tăng độc giả. Vì lẽ đó mà iPhone, iPad… được quảng bá gần như miễn phí.

Để được vậy, Apple hiện tại hay Trung Nguyên, Phở 24, Flappy Bird một thời… đều có điểm chung là có khả năng kiến tạo những giá trị mới mẻ – những lợi ích thiết thực nhưng có tính khác biệt, hấp dẫn vượt trội trong bối cảnh thị trường tại thời điểm đó. Điều này chỉ có được khi DN biết đầu tư đúng đắn cho R&D (nghiên cứu và phát triển).

Chỉ có R&D đúng nghĩa mới là nguồn động lực tạo nên thành tựu lâu dài. Nghiên cứu đâu chỉ là sản phẩm, mà phải bắt đầu từ thị trường, khách hàng và đối thủ… Phát triển cũng phải bao gồm cả hệ thống, quy trình chứ không chỉ sản phẩm. Đặc biệt hơn, chiến lược phát triển con người cũng cần phải đầu tư nghiêm túc để gia tăng sức cạnh tranh đến từ tri thức.

Nói như vậy không có nghĩa phủ nhận vai trò của quảng cáo. Tuy nhiên, theo lệ thường, những sản phẩm thông dụng có những thuộc tính na ná nhau thường phải ưu tiên quảng cáo để tạo động lực bán hàng. Sự khác biệt giữa những sản phẩm này nếu có cũng không đủ tạo ra sự hấp dẫn kiểu như bột giặt này “trắng sáng”, bột giặt kia “trắng tinh khôi”…

Trắng gì cũng là trắng – trắng nhanh, trắng nhiều mà không nhanh hỏng quần áo mới hay thì chưa thấy nói. Như vậy, để tăng trưởng, những thương hiệu này phải dựa vào quảng cáo truyền thông với ngân sách lớn. Đây là những cái bẫy chi phí mà DN nhỏ với nguồn vốn yếu cần phải tránh.

Sự khác biệt chủ yếu của những thương hiệu này là phương thức sáng tạo trong quảng cáo đi kèm với nguồn ngân sách khổng lồ nhằm “đè bẹp” những thương hiệu khác để chiếm lĩnh thị phần. Bởi đó là mục tiêu tạo ra tính quy mô để bù đắp chi phí đầu tư tăng trưởng.

Trong một thị trường mà những thương hiệu dẫn đầu có cạnh tranh khốc liệt thì những thương hiệu nhỏ sẽ bị ảnh hưởng, khó có thể phát triển. Do vậy, DN cần phải sáng tạo, linh hoạt để tạo ra những hướng đi riêng.

Ngược lại, thành công của Sơn Nova, X-Men, Gốm sứ Minh Long 1, Uber… chắc chắn không dựa vào những nguồn ngân sách quảng cáo khổng lồ, mà đến từ những chiến lược xây dựng và bảo vệ nền tảng thương hiệu một cách sáng tạo, bền vững, căn cơ.

Tuy khác nhau về ngành nghề và xuất xứ, nhưng họ đều có điểm chung là đầu tư nghiêm túc cho R&D, biết đặt R&D là trung tâm của sự phát triển lâu dài, biết đổi mới công nghệ để tạo ra lợi thế cạnh tranh, xây dựng chính sách phục vụ khách hàng để bảo vệ thị phần, hoàn thiện chính sách nhân sự để thu hút nhân tài và gia tăng năng suất.

Hình thức theo tính năng

Sự khác biệt bởi tính năng vượt trội mới là sự khác biệt nền tảng, là sự sáng tạo gốc và có khả năng sở hữu cao. Các bằng sáng chế, phát minh có được từ R&D không chỉ giúp DN bảo vệ được lợi thế cạnh tranh về sản phẩm mà còn giúp gia tăng giá trị thương hiệu trong dài hạn.

Bằng sáng chế, phát minh có thể được định giá cao khi “thế chấp” ngân hàng để bổ sung nguồn vốn khi cần thiết. Thế nhưng, trên thực tế, phần lớn DN Việt không có nguồn vốn mạnh, công nghệ lạc hậu, thiếu đầu tư nghiêm túc cho R&D nhưng lại thường “chọn” vào “phân khúc lớn” bởi tư duy cơ hội, ngắn hạn.

Vấn đề là những phân khúc thị trường có quy mô lớn thường cũng đòi hỏi cao về tính đa dạng của chủng loại sản phẩm, giá thành hấp dẫn, kênh phân phối phải rộng và sâu để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu như bột giặt, mì gói, nước đóng chai, dầu gội đầu…

Hơn nữa, những phân khúc “màu mỡ” này thường quy tụ các thương hiệu quốc tế có nguồn lực cạnh tranh hùng hậu, sẵn sàng “tàn phá” các DN yếu hơn bằng những phương cách khác nhau.

Bế tắc ở chỗ muốn có quy mô hay chiếm lĩnh được thị phần lớn thì nguồn vốn phải mạnh để truyền thông quảng cáo, đa dạng hóa mặt hàng, gia tăng độ phủ kênh phân phối…

Vòng luẩn quẩn “nhân lực – quy trình – vốn” đã khiến nhiều DN Việt như Tribeco, Chương Dương, Daso, Bay, Veo… rơi vào tình trạng bế tắc và dần bị thay thế bởi những thương hiệu ngoại nhập có chất lượng và nguồn lực cạnh tranh hùng hậu chiếm lĩnh thị trường.

Tìm ra thị trường ngách, liên tục đổi mới sáng tạo sản phẩm, cởi mở với các nhà đầu tư chiến lược và mạnh dạn đầu tư R&D là yếu tố sống còn. Nếu không có những thay đổi mạnh mẽ từ tư duy, DN Việt khó có thể tồn tại trong một thị trường hội nhập.

Trong kinh doanh, lợi nhuận kinh tế mới thực sự quan trọng, lợi nhuận kế toán chỉ là “kỹ thuật”. Thương hiệu cũng vậy, sẽ chẳng có ý nghĩa gì khi phần lớn lãi gộp thường niên đều phải tái đầu tư để bảo vệ thị phần. Bởi nếu ngừng quảng cáo thì doanh thu sẽ giảm, thị phần sẽ mất. Khi đó, DN đã tự đưa mình vào bẫy chi phí do chính mình tạo ra.

Theo DNSG


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.

Năm 2017, quảng cáo kỹ thuật số châu Á vượt mặt truyền hình

Ngành quảng cáo kỹ thuật số châu Á sẽ vượt qua truyền hình vào năm 2017 và chiếm tới 44% thị phần quảng cáo vào năm 2020.

Trong một báo cáo mới nhất của công ty Media Partners Asia (MPA), các nhà phân tích đưa ra con số ước tính rằng ngành quảng cáo tại châu Á sẽ tiếp tục đà tăng trưởng 5 – 6% vào năm tới.

Thị trường có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất hiện là Ấn Độ với mức tăng 10,8%. Trong khi đó, ở vị trí thứ hai là Trung Quốc với 8,5% và tiếp đến là Việt Nam ở vị trí thứ 3 với 8,1%.

Nhận định về tốc độ tăng trưởng trong vòng 5 năm tới của từng nước, hãng Media Partners Asia cho biết, Ấn Độ sẽ là nước tiếp tục dẫn đầu mức tăng trưởng với mức 10,7%, Trung Quốc 8,2% , Philippines 7,7% và Việt Nam 7,3%.

Được biết, Trung Quốc hiện là thị trường quảng cáo lớn nhất trong khu vực, sau khi đã vượt qua Nhật Bản vào năm 2012. Tổng giá trị của thị trường này dự kiến sẽ đạt ngưỡng 85 tỷ USD vào năm 2020.

Thị phần của mảng quảng cáo kỹ thuật số tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương được dự báo sẽ vượt qua truyền hình vào năm 2017 và tăng lên 44% vào năm 2020, so với mức 31% của năm 2015. Những nước có mức tăng trưởng cao nhất trong lĩnh vực này sẽ là Úc, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan.

Tính đến năm 2020, hoạt động quảng cáo trên sóng truyền hình vẫn là hình thức quảng cáo phổ thông nhất cho các thị trường lớn như Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Tại khu vực Đông Nam Á, mảng truyền hình được dự báo sẽ có gia tăng nhẹ về thị phần, từ 54% vào năm 2015 lên 55% vào năm 2020. Sự tăng trưởng này chủ yếu đến từ việc ra mắt các dịch vụ truyền hình kỹ thuật số mặt đất (DTT) tại Philippines, Thái Lan cộng với sự phục hồi của truyền hình miễn phí (free-to-air) tại Indonesia.

Theo Variety/NCĐT


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.